Sự kiện nổi bật:

Giới thiệu

Cập nhật lúc : 23/08/2019

Giới thiệu về Hương Xuân

Hương Xuân là một trong 16 phường, xã của thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Phường nằm cách trung tâm thành phố Huế 11km về phía Tây Bắc. Địa giới của phường được phân định ở phía Bắc giáp xã Quảng Phú và xã Quảng Thọ (huyện Quảng Điền); phía Nam giáp xã Hương Bình; phía Đông giáp xã Hương Toàn và phường Hương Chữ; phía Tây giáp phường Hương Văn (đều thuộc thị xã Hương Trà).

 

So với nhiều làng quê khác trên vùng đất Thừa Thiên Huế, Hương Xuân có lịch sử tụ cư lập làng hàng thế kỉ, trong đó sớm nhất là làng Liễu Cốc và Thanh Lương [1]. Ở thời điểm năm 1555, khi soạn sách Ô châu cận lục, Dương Văn An đã đề cập đến những làng cổ có tên Liễu Cốc và Thanh Kệ [2] (trước có tên Trà Kệ, nay là Thanh Lương). Có thể đây cũng là huyện đường Trà Kệ (nay là huyện Quảng Điền) thời Trần. Cả hai làng (Trà Kệ và Liễu Cốc) đều được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển làng cũ của người Chăm trước đó, trong đó dấu tích Champa còn lại ở tháp đôi Liễu Cốc (nay thuộc tổ dân phố Xuân Tháp). Lúc này, Liễu Cốc thuộc huyện Kim Trà, Thanh Lương thuộc huyện Đan Điền.

Quá trình thay đổi địa danh và địa giới ở Hương Xuân diễn ra ở hầu hết các triều đại. Cuối thời chúa Nguyễn (1774), huyện Hương Trà có 9 tổng, 82 làng, 7 thôn, 1 giáp, 18 phường và 1 châu, trong đó Liễu Cốc Thượng và Liễu Cốc Nam thuộc tổng An Vân. Thanh Kệ thuộc tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Khoảng thời Minh Mạng, dòng họ Phan với 25 gia đình tách ra khỏi Văn Xá để lập làng riêng, lấy tên là Tiên Lộc gồm một phần đất của giáp Nhì và giáp Ba (nay nhập vào Hương Xuân). Thời Đồng Khánh (1886), Liễu Cốc Thượng thuộc tổng Phú Ốc; các làng Thanh Lương, Tiên Lộc và Xuân Đài thuộc tổng Hương Cần, huyện Hương Trà. Năm 1892, ấp Thanh Khê hình thành trên cơ sở do ông Đặng Huy Cát tập hợp người khai phá vùng chân núi Thất Giới.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, dưới thể chế Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hương Xuân lúc này có tên là Hương Kinh, gồm 5 thôn: Thanh Lương, Xuân Đài, Liễu Thượng, Liễu Nam và Thanh Khê. Tháng 7-1947, xã Hương Kinh sáp nhập với xã Hương Xá thành xã Hương Thạnh. Trong khi đó, phía chính quyền thực dân Pháp vẫn giữ nguyên. Năm 1950, tổng Phú Ốc có 11 làng, trong đó có Liễu Cốc Thượng và Thanh Khê. Tổng Hương Cần có các làng Thanh Lương, Tiên Lộc và Xuân Đài. Từ năm 1954, dưới chính quyền Việt Nam cộng hòa, các thôn Tiên Lộc, Liễu Nam, Liễu Cốc Thượng, Thanh Lương và Xuân Đài thuộc xã Hương Việt, quận Hương Trà. Đến ngày 9-8-1960, Bộ Nội vụ Việt Nam cộng hòa ra Nghị định số 1011/BNV-BNV-NC8-NĐ chia xã Hương Việt làm hai xã: Hương Phú và Hương Xuân. Hương Xuân gồm các thôn Tiên Lộc, Liễu Nam, Liễu Cốc Thượng, Thanh Lương và Xuân Đài.

Sau ngày thống nhất đất nước 1975, Hương Thạnh đổi tên thành Hương Xuân thuộc huyện Hương Trà. Ngày 15-11-2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 99/NQ-CP về thành lập thị xã Hương Trà và các phường thuộc thị xã Hương Trà. Theo nghị quyết này, “thành lập phường Hương Xuân thuộc thị xã Hương Trà trên cơ sở toàn bộ 1.493 ha diện tích tự nhiên và 8.784 nhân khẩu của xã Hương Xuân”. Hiện nay Hương Xuân có các tổ dân phố sau: Thanh Khê, Thượng Thôn, Trung Thôn, Liễu Nam, Thanh Tiên (sáp nhập Phe Nhất Thanh Lương và Tiên Lộc), Thanh Lương 2 (sáp nhập Phe Nhì Thanh Lương và Ngư nghiệp), Thanh Lương 3, Thanh Lương 4, Xuân Tháp (sáp nhập Xuân Đài và Xóm Tháp).

Về diện tích, Hương Xuân rộng 1.493ha, trong đó có 820ha đất nông nghiệp (gồm 416,91ha đất sản xuất nông nghiệp, 395,76ha đất lâm nghiệp, 7,33ha đất nuôi trồng thủy sản); 626,19ha đất phi nông nghiệp (gồm 170,78ha đất ở đô thị, 113,09ha đất chuyên dùng, 12,1ha đất tôn giáo và tín ngưỡng, 138,44ha đất nghĩa trang và nghĩa địa, 191,78ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng); 46,81ha đất chưa sử dụng (gồm 29,11ha đất đồi núi, 17,7ha đất rừng).

Về dân số, đến năm 2016 Hương Xuân có 1.829 hộ với 8.628 khẩu, trong đó có 5.953 người trong độ tuổi lao động (gồm 1.409 người sản xuất nông nghiệp (chiếm 23,7%), 4.544 người lao động phi nông nghiệp (chiếm 76,3%). Qua thời gian, dù sớm muộn khác nhau, nhưng các dòng họ của các làng thuộc phường Hương Xuân đã cùng “chung lưng đấu cật”, góp phần tạo dựng nên mảnh đất Hương Xuân ngày càng trở nên giàu đẹp.

Về địa thế, Hương Xuân hẹp bề ngang theo hướng Bắc - Nam nhưng trải dài theo hướng Đông - Tây. Nhìn trên bản đồ, về phía Đông dòng sông Bồ uốn khúc tạo cho Hương Xuân như mãnh hổ đang lựa thế vươn lên. Có lẽ vì thế, trải qua bao đời, những người dân Hương Xuân luôn mang trong mình khát vọng và hoài bão lớn trước thời cuộc.

Về địa hình, Hương Xuân có cả đồng bằng và vùng đồi, trong đó vùng đồng bằng chạy dài từ phía Bắc của phường tới hết Thanh Khê (tổ dân phố 1), diện tích 1.025ha (chiếm 68,65% diện tích tự nhiên) có độ cao trung bình so với mặt biển là 2,5m. Đây là vùng sản xuất chính và dân cư tập trung. Vùng đồi tập trung ở phía Nam sông Bồ với tổng diện tích 468ha, chiếm 31,35% diện tích tự nhiên của phường, địa hình đồi bát úp, có độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 100m (cao nhất là 285m).

Về khí hậu, nằm trong tiểu vùng Bắc Hải Vân, vùng đất Thừa Thiên Huế nói chung và Hương Xuân nói riêng, là nơi thường xuyên xảy ra nhiều thiên tai, bão lụt. Vào mùa nắng, gió mùa Tây Nam nóng rát, làm khô cháy ruộng đồng. Từ tháng 7 âm lịch trở đi, đặc biệt cao điểm vào cuối tháng 10: “Ông tha mà bà chẳng tha/ Trời cho cái lụt hai ba tháng Mười”, vùng này phải hứng chịu “thiên tai kép” do nhiều cơn bão lớn từ biển, đi kèm là lũ từ thượng nguồn sông Bồ đổ về.

Hương Xuân có hệ thống giao thông đa dạng, thuận lợi để tỏa đi các địa phương trong và ngoài thị xã cũng như rộng ra cả nước. Về đường bộ, có Quốc lộ 1A và đường tránh Huế phía Tây thuận tiện cho việc đi lại, buôn bán của nhân dân đến các địa phương trong cả nước; Tỉnh lộ 8A và Tỉnh lộ 16, chưa kể các tuyến đường liên thôn, liên phường đã được bê tông hoặc nhựa hóa nối liền các tổ dân phố trong phường cũng như với các phường - xã bạn.

Về thủ công nghiệp, cũng như nhiều làng quê khác, tranh thủ những lúc nông nhàn, người dân Hương Xuân còn làm thêm nhiều ngành nghề thủ công phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày. Trước hết là bà con tận dụng những lũy tre quanh nhà để tạo vật liệu cho nghề đan lát từ các vật dụng sử dụng trong sản xuất như thúng mủng, rổ rá, quang gánh, sọt, bồ đựng lúa…, đến những dụng cụ đánh bắt cá tôm như nơm, dũi, đăng, đó… và những vật dụng trong gia đình như giường chõng, bàn ghế, nhà cửa,… Để tạo nông cụ, nghề rèn Thanh Lương một thời nổi tiếng, sản xuất ra các loại cuốc, xẻng, cày bừa, liềm hái, dao rựa…

Truyền thống văn hóa, Hương Xuân là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, người dân hiền hòa, chất phác, yêu lao động, trọng lễ nghĩa và đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Ngay từ khi lập làng, những cư dân đầu tiên đã ra sức giữ gìn và phát huy những vốn văn hóa mang theo từ quê cũ, kết hợp với kế thừa những tinh hoa văn hóa bản địa để sớm tạo lập cho mình lối sống đẹp, nề nếp gia phong trên vùng đất mới. Tiêu biểu như làng Liễu Cốc được ca ngợi có “nền nếp nho phong” [3], “phong hóa thanh cao” [4]. Sự “hoài niệm” về quê hương bản quán còn thể hiện ở sự “sao chép” nguyên mẫu làng cũ miền Bắc trong việc tạo lập cấu trúc làng xã. Rõ nhất là đi kèm với khai phá đất đai, lập làng lập xóm, trong buổi đầu dù còn gian khó nhưng những cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và quản lý xã hội cũng đã được chú ý. Có làng là phải có đình làng, chùa làng, trong đó Thanh Lương là một trong số ít làng ở xứ Thuận Hóa vào thời điểm đó có công trình mang tính biểu tượng của làng: “Thanh Kệ bên sông đình một mái” [5].

Hương Xuân cổ còn có chợ Thanh Kệ một thời khá nổi tiếng. Chợ Kệ được Lê Quang Định mô tả: “950 tầm, bên trái từ đây đi xuống đều có cư dân và đất khô, bên phải có chợ Thanh Lương, tên cũ là chợ Thanh Kệ, chợ đông vào buổi trưa” [6]. Chợ Kệ không chỉ là nơi trao đổi mua bán giữa dân làng Thanh Kệ với các làng kề cận mà còn là nơi cung cấp nhu yếu phẩm sinh hoạt cho các tầng lớp quan lại, binh lính ở phủ Phước Yên nằm cách đó 900 tầm.

Về đời sống tinh thần, nhân dân Hương Xuân vốn có đức tính cần cù và nhẫn nại, một nắng hai sương, chịu thương chịu khó. Trong sinh hoạt, bà con luôn luôn giản dị khiêm tốn, tiết kiệm, giàu lòng nhân ái, sẵn sàng đùm bọc, cưu mang giúp đỡ lẫn nhau khi gặp thiên tai, hoạn nạn, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn, có tinh thần chan hoà bình đẳng trong đời sống cộng đồng. Con dân của làng dù sinh sống nơi đâu cũng luôn luôn hướng về cội nguồn, tha thiết thuỷ chung và có ý thức xây dựng quê hương. Nổi bật nhất ở Hương Xuân là lễ Thu tế làng Thanh Lương vào hai ngày 11 và 12-7 âm lịch hằng năm để tế các vị thần khai canh lập làng tại đình làng. Ngày chính hội là ngày 12-7 âm lịch.

Thanh Lương là một trong ba làng khoa bảng nổi tiếng nhất của không chỉ Hương Trà mà của cả tỉnh Thừa Thiên Huế (Thanh Lương, La Chử và Minh Hương). Qua nhiều thời kì, với 19 cử nhân, Thanh Lương là làng có số cử nhân cao nhất Thừa Thiên Huế, trong đó nổi tiếng nhất là dòng họ Đặng, được lưu truyền trong câu ca “Nhất Thân, nhì Đặng, tam Hà/ Thứ tư mới đến dòng nhà Nguyễn Khoa” [7]. Truyền thống khoa bảng của Hương Xuân được thể hiện ở chỗ làng sớm xây dựng nhà Thánh, là một biểu tượng tôn vinh truyền thông hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân. Qua nhiều thời kì, Hương Xuân là nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú có những đóng góp lớn đối với quê hương và đất nước, tiêu biểu như Đặng Văn Hòa, Đặng Huy Trứ, Đặng Huy Cát, Đặng Hữu Phổ…

Trên địa bàn phường hiện có 2 di tích lịch sử cấp quốc gia: Nhà thờ danh nhân Đặng Huy Trứ và phế tích tháp đôi Liễu Cốc.

Về phát triển kinh tế - xã hội: năm 2018, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành kinh tế bình quân trong năm đạt 15,52% tăng 0,61% so cùng kỳ năm trước, thu nhập bình quân đầu người/năm 41,5 triệu đồng; an sinh xã hội bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; cơ bản đã thực hiện đạt và vượt 17/17 chỉ tiêu đề ra.

II. TỔ CHỨC BỘ MÁY

       Đảng bộ Hương Xuân hiện có 225 đảng viên, sinh hoạt tại 16 chi bộ, bao gồm: 9 chi bộ Tổ dân phố, 4 chi bộ trường học, chi bộ Quân sự, chi bộ Công an và chi bộ Trạm Y tế.  

       - Ban Chấp hành Đảng bộ: 15 đồng chí. 

          1. Đ/c Ngô Quang Thảo                       9. Đ/c Trương Sỹ Định

          2. Đ/c Lê Văn Toàn                             10. Đ/c Nguyễn Phú Bình

          3. Đ/c Nguyễn Sào                               11. Đ/c Nguyễn Văn Anh

          4. Đ/c Trần Viết Xuân                         12. Đ/c Nguyễn Thị Diệu Hương

          5. Đ/c Trần Lưu Đức                            13. Đ/c Nguyễn Thị Thu Phương

          6. Đ/c Lê Thị Huê                                14. Đ/c Nguyễn Minh Phụng

          7. Đ/c Lê Thị Bảy Lan                        15. Đ/c Dương Thị Nhã Phương

          8. Đ/c Nguyễn Hữu Trình

          - Ban Thường vụ Đảng ủy: 05 đồng chí

          1. Đ/c Ngô Quang Thảo

          2. Đ/c Lê Văn Toàn

          3. Đ/c Nguyễn Sào

          4. Đ/c Trần Lưu Đức

          5. Đ/c Lê Thị Bảy Lan

          - Bí thư: Đ/c  Ngô Quang Thảo

- Phó Bí thư Đảng uỷ:

                    + Đ/c  Lê Văn Toàn

                    + Đ/c  Nguyễn Sào

 

 



[1]. Vùng đất Hương Xuân cổ gồm có làng Liễu Cốc thuộc huyện Kim Trà (nay là Liễu Cốc Thượng và Liễu Cốc Nam thuộc Hương Xuân, Liễu Cốc Hạ thuộc Hương Toàn) và Thanh Kệ thuộc huyện Đan Điền (nay là Thanh Lương).

[2]. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, bản dịch của Nguyễn Khắc Thuần, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr. 37.

[3]. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Sđd, tr. 44.

[4]. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Sđd, tr. 71.

[5]. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Sđd, tr. 79.

[6]. Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Phan Đăng dịch, Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông - Tây, Huế, 2005, tr. 215.

[7]. Dòng họ Thân gắn với làng Nguyệt Biều-An Lỗ, họ Đặng ở làng Thanh Lương-Bác Vọng, họ Hà ở làng La Chữ và họ Nguyễn Khoa ở An Cựu-Ưu Điềm.

Số lượt xem : 1623